Chẩn đoán chữa trị và phân loại ung thư gan
80% ung thư gan trên nền xơ gan
Có đến đến 80% trường hợp ung thư gan hay gặp trên nền xơ gan. Xơ gan do nhiễm virus viêm gan B, C, xơ gan do bia rượu là các nguyên nhân có thể dẫn đến ung thư hóa gan. Theo nghiên cứu 2 loại virus nguy hiểm B và C dẫn đến ung thư tế bào gan sau 20 – 40 năm. Xơ gan do nhiễm sắt cũng có thể gây ung thư gan. Bệnh nhân nhiễm virus viêm gan B, C cũng có thể bị ung thư gan dù chưa từng bị xơ gan.
Aflatoxin- một loại chất có mặt trong các loại thực phẩm bị mốc cũng có thể gây bệnh ung thư gan.
Ngoài ra, việc dùng các loại thuốc tránh thai trong thời gian dài cũng có thể gây bệnh này. Thuốc tránh thai được sử dụng trong thời gian dài tạo nên u tuyến trong gan dễ tiến triển thành ung thư biểu mô tế bào gan.

80% xơ gan trên nền ung thư gan
Khó nhìn ra bệnh
Các dấu hiệu bệnh ung thư gan ở giai đoạn sớm rất mập mờ, khó đoán. Vì vậy, cần phải rà soát từ nguyên nhân gây bệnh như thói quen bia rượu, viêm gan B, C hoặc các vấn đề liên quan đến gan khác. Thăm khám từ 3-6 tháng/lần, làm các xét nghiệm kiểm tra giúp bác sĩ “trở tay” kịp thời với những bất ổn đến từ lá gan của bạn.
Ngoài ra, các bác sĩ cũng lưu ý một số dấu hiệu để phát hiện sớm bệnh.
– Chán ăn, đầy hơi sau khi ăn.
– Mệt mỏi, buồn nôn và nôn, nhiều trường hợp còn bị sốt.
– Sụt cân nhưng không rõ nguyên nhân.
– Đau vùng hạ sườn phải (vị trí của lá gan).
– Bụng chướng do dịch ứ trong ổ bụng.
– Vàng da, vàng mắt.
– Nước tiểu sẫm màu, phân bạc màu.
Ung thư gan khó đoán bởi các triệu chứng mập mờ. Chẳng hạn việc sút cân. Ai mà ngờ sút cân cũng có thể dấu hiệu của ung thư gan (hình minh họa)
Chụp hình ảnh cản từ và xét nghiệm AFP giúp chẩn đoán ung thư gan
Việc tìm hiểu các yếu tố nguy cơ của bệnh nhân giúp chẩn đoán ung thư gan hiệu quả. Đã từng nhiễm virus viêm gan B, C hay cả hai? Tình trạng sử dụng rượu, bia? Có tiếp xúc với hóa chất hay độc tố không?
Theo Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị ung thư tế bào gan nguyên phát của Bộ Y tế, việc chẩn đoán xác định ung thư tế bào gan nguyên phát, người bệnh phải có 1 trong 3 tiêu chuẩn sau:
– Có bằng chứng giải phẫu bệnh lý là ung thư tế bào gan nguyên phát.
– Hình ảnh điển hình trên CT ổ bụng có cản quang hoặc MRI ổ bụng có cản từ + AFP tăng cao hơn bình thường (nhưng chưa đến 400 ng/ml) + có nhiễm virus viêm gan B hoặc C. Có thể làm sinh thiết gan để chẩn đoán ung thư gan nếu bác sĩ lâm sàng thấy cần thiết.
– Hình ảnh điển hình trên CT ổ bụng có cản quang hoặc MRI có cản từ + AFP > 400 ng/ml.
Cũng xin giải thích thêm, xét nghiệm AFP là một xét nghiệm máu được dùng để đo nồng độ AFP trong cơ thể. Bình thường nồng độ AFP < 25 UI/ml. Khoảng 60% bệnh nhân ung thư gan có nồng độ AFP > 100 UI/ml. Khoảng 50% bệnh nhân ung thư gan có nồng độ AFP > 300 UI/ml.

AFP >400 ng/ml là có dấu hiệu của ung thư gan (hình minh họa)
Số lượng và kích thước cho biết ung thư gan giai đoạn nào?
Các bác sĩ sẽ tiến hành xác định giai đoạn của ung thư sau khi chẩn đoán bệnh nhân bị ung thư gan. Quá trình này giúp đánh giá số lượng và kích thước của các khối u cùng với khả năng di căn của ung thư. Các chẩn đoán hình ảnh thường được dùng là chụp cộng hưởng từ (MRI), chụp cắt lớp điện toán (CT scan), và chụp xạ hình xương.
Có nhiều cách phân loại các giai đoạn của ung thư gan. Cách thứ nhất là phân loại Roman đánh số từ I đến IV để thể hiện các giai đoạn của ung thư, trong khi các cách khác dùng các chữ số từ A đến D. Các bác sĩ có thể dự đoán tiên lượng bệnh và đề nghị các phương pháp điều trị thích hợp theo từng giai đoạn của bệnh. Giai đoạn D hay IV cho thấy ung thư gan đang ở tiên lượng xấu nhất.
40% các khối u ác tính di căn sang gan
Ung thư gan chia làm hai loại: nguyên phát và thứ phát (ung thư di căn sang gan).
– Ung thư gan nguyên phát
Các khối u gan nguyên phát phát triển từ các thành phần của nhu mô gan bao gồm các khối u biểu mô: Ung thư tế bào gan (HCC), ung thư tế bào gan xơ dẹt là những khối u có nguồn gốc từ tế bào gan, ung thư tế bào đường mật trong gan có nguồn gốc từ tế bào đường mật, ung thư hỗn hợp (Cholangio hepatocarcinoma).
Các khối u phát triển từ trung mô it gặp bao gồm các khối u: u mạch máu, u nguyên bào gan, u cơ trơn, u cơ vân.
– Ung thư gan di căn
Khoảng 40% các khối u ác tính có thể di căn sang gan, trong đó 95% các khối nguyên phát thuộc hệ thống vùng lấy máu của hệ thống cửa (ruột non, đại tràng, đường mật và tụy). Còn lại là các khối nguyên phát ở tuyến giáp, các cơ quan sinh dục-tiết niệu, vú, phổi… Tổn thương di căn ung thư gan có thể có một vài khối nhỏ trên nền gan lành. Đôi khi là một khối lớn hoặc nhiều khối. Một số thể đặc biệt có thể gặp:
– Di căn thể vôi hóa thường là vôi hóa nhỏ rải rác hay gặp ở ung thư dạng dịch nhầy của buồng trứng hay đại tràng
– Di căn thể nang có hình ảnh giống nang gan hoặc áp xe. Hay gặp trong di căn ung thư cơ trơn, ung thư nhầy, ung thư hắc tố.
– Di căn giàu mạch máu thường thấy ở các khối u nội tiết như u carcinoid, tụy, vỏ thượng thận, ung thư thận, ung thư tế bào rau thai.
– Di căn thể thâm nhiễm lan tỏa: lan tỏa dạng bè, cấu trúc khó xác định thường thấy trong ung thư thận.
– Di căn bạch huyết: tổn thương thành dải phân nhánh theo tĩnh mạch cửa.

Ung thư gan có thể do di căn từ những nơi khác đến (hình minh họa)
Đa dạng các phương pháp chữa ung thư gan
– Ghép gan
– RFA radio frequency ablation: Đây là phương pháp chữa ung thư gan bằng cách sử dụng sóng cao tần phá u. Bản chất là sóng radio dòng điện xoay chiều là tăng ma sát giữa các ion của mô u. Ma sát do nhiệt làm khô mô xung quanh dẫn đến làm mất nước trong tế bào và hoại tử đông khối u.
– Microwave ablation: Phương pháp này đốt u gan bằng vi sóng.
– Percutaneous ethanol or acetic acid ablation: Tiêm cồn hoặc acid acetic vào khối u qua da.
– TACE: Nút hóa chất động mạch khác TOCE – Nút mạch hóa dầu.
– Cryoablation: Nhiệt động là phương pháp sử dụng nhiệt lạnh như CO2, Helium, Argon. Phương pháp này tạo nhiệt độ -100 độ C để tiêu diệt khối u.
– Radioembolization: Nút mạch u gan bằng hạt phóng xạ.
– Xạ trị, xạ phẫu.
– Hóa chất toàn thân và sinh học phân tử điều trị đích.
Tùy theo từng giai đoạn của ung thư gan, các phương pháp được áp dụng sẽ khác nhau. Có khi việc chữa trị phải kết hợp ít nhất là hai phương pháp trên.